RSS

Tiểu sử Stephen Hawking

20 Jun

Nhà vũ trụ học Stephen Hawking được xem là một trong những nhà vật lý lý thuyết tài năng nhất kể từ Albert Einstein. Công việc của ông về nghiên cứu khởi nguyên và cấu trúc của vũ trụ – từ Big Bang cho tới lỗ đen – đã làm nên một cuộc cách mạng trong lĩnh vực này; trong khí đó những cuốn sách ăn khách của ông đã lôi cuốn độc giả trên khắp thế giới – những người có lẽ chưa biết gì về tiểu sử khoa học của ông. Trong phần giới thiệu ngắn này, chúng ta cùng nhìn về sự nghiệp và sự học của Hawking – từ những khám phá cho tới những cuốn sách nổi tiếng mà ông đã viết – và căn bệnh đã lấy mất khả năng nói và di chuyển của ông.

Cuộc đời đầy giông tố

Nhà vũ trụ học người Anh Stephen William Hawking sinh tại nước Anh vào ngày 8/1/1942 – đúng 300 năm kể từ ngày chết của nhà thiên văn học Gelileo Galilei. Ông theo học tại trường đại học Oxford, chuyên ngành vật lý, mặc dù công việc của cha ông là tập trung vào thuốc men. Hawking theo học Cambrige để nghiên cứu vũ trụ học.

Vào đầu năm 1963 – chỉ vừa bước qua tuổi 21 – Hawking mắc phải căn bệnh thoái hóa tế bào thần kinh vận động, hay còn gọi là bệnh Lou Gehrig. Ông được chẩn đoán và được cho là chỉ sống thêm không hơn hai năm nữa. Tuy vậy ông đã chống tại được số mệnh , không chỉ hoàn thành được học vị Tiến sĩ mà còn tiến lên và tiếp tục trên con đường dẫn tới sự hiểu biết về toàn vũ trụ trong nhiều thập kỷ tiếp theo.

Khi căn bệnh trở nên trầm trọng hơn, khả năng hoạt động của Hawking mất dần và sau đó bị giam cầm trên chiếc xe lăn. Tới năm 1985, sau cuộc phẩu thuật mở khí quản ông đã mất luôn giọng nói. Thiết bị phát tiếng nói đã được hoàn thành bởi trường Cambrige – kết hợp với những chương trình phần mềm – đem đến cho ông giọng nói điện tử như ngày nay. Ông nói bằng cách dịch chuyển những cơ ở má để chọn lựa những từ ngữ.

Ngay trước khi chẩn đoán bị bệnh, ông đã gặp Jane Wilde và cả hai đã kết hôn vào năm 1965. Cặp đôi đã có ba đứa con trước khi chia tay. Hawking tái hôn vào năm 1995 nhưng đã ly hôn vào năm 2006.

Một trí óc vĩ đại

Hawking làm nghiên cứu sinh ở Cambrige sau khi đã tốt nghiệp và không bao lâu sau trở thành nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Năm 1974 ông được mời vào Hội Hoàng Gia (Royal Society). Vào năm 1979 ông được bổ nhiệm làm Giáo sư Lucasian về Toán học ở Cambrige – chức danh đại học nổi tiếng nhất trên thế giới (Isaac Newton là người từng nắm vị trí này), đồng thời là thành viên của Hội Hoàng Gia.

Hawking đã nghiên cứu về những định luật cơ bản chi phối vũ trụ. Ông đề xuất rằng – khi vũ trụ bắt đầu hình thành – Big Bang – nó sẽ có kết thúc. Cùng làm việc với nhà vũ trụ học Roger Penrose, Hawking đã chứng minh rằng thuyết Vạn vật hấp dẫn của Einstein đề xuất rằng không gian và thời gian bắt đầu vào thời điểm tạo nên vũ trụ, và kết thúc ở trong lòng những hố đen, vậy nên theo logic thuyết hấp dẫn của Einstein và thuyết lượng tử phải thống nhất với nhau.

Sử dụng cả hai thuyết với nhau, Hawking cũng xác định rằng lỗ đen không hoàn toàn câm lặng mà thực sự phát ra những bức xạ. Ông dự đoán rằng, sau Big Bang, những lỗ đen có kích cỡ bằng những hạt proton đã được hình thành và thống trị cả lực hấp dẫn lẫn cơ học lượng tử.

Hawking đề xuất rằng vũ trụ tự nó không hề có biên giới – rất giống Trái Đất. Dù nó có hạn, một người có thể đi vòng quanh Trái Đất ( cũng như đi xuyên vũ trụ) mà không bị đụng đầu vào bức tường nào – hay nói cách khác là không có điểm kết thúc.

Những cuốn sách của Hawking

Hawking là một tác giả nổi tiếng. Cuốn sách đầu tiên của ông – Lược sử thời gian (A Brief History of Time) được xuất bản vào năm 1988 và trở thành tác phẩm bán chạy trên toàn thế giới. Trong tác phẩm này Hawking nhắm tới những câu hỏi về khởi nguyên và kết thúc của vũ trụ của những người nghiệp dư.

Kể từ đó, Hawking đã tiếp tục với những cuốn sách khoa học không viễn tưởng nhắm tới những người không chuyên nghiệp. Có thể kể tên các tác phẩm như “A Briefer History of Time,” (Lược sử thời gian), “The Universe in a Nutshell,” (Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ), “The Grand Design,” (Thiết kế vĩ đại) and “On the Shoulders of Giants.”

Ông cũng đã viết một series sách khoa học viễn tưởng dành cho học sinh trung học về sự hình thành của vũ trụ, bắt đầu bằng cuốn “George and the Big Bang”.

Hawking đã xuất hiện trên một vài chương trình truyền hình, như xuất hiện dưới ảnh chụp không gian chiều trong “Star Trek: The next Generation” và xuất hiện một vài cảnh trong chương trình truyền hình “Big Bang Theory”. Đài PBS đã giới thiệu một series giáo dục ngắn có tựa đề “Stephen Hawking’s Universe” (Vũ trụ của Stephen Hawking) khám phá những lý thuyết về vũ trụ.

Những lời trích dẫn từ Stephen Hawking

Những phát ngôn của ông có cả những phát ngôn đáng chú ý, những câu nói đầy chất thơ và cũng có những lời gây tranh cãi. Một vài câu trong số đó:

  • Ngay cả khi có thể chỉ có một thuyết thống nhất duy nhất, nó cũng chỉ là một tập hợp của các công thức và phương trình. Thứ gì đã thổi lửa vào những phương trình và tạo nên cả vũ trụ để chúng mô tả ? Sự tiếp cận bất thường về khoa học tạo nên những mô hình toán học không thể trả lời câu hỏi tại sao lại có một vũ trụ để mô hình ấy mô tả ? Tại sao vũ trụ lại xuất hiện một cách phiền nhiễu như thế ? (“Even if there is only one possible unified theory, it is just a set of rules and equations. What is it that breathes fire into the equations and makes a universe for them to describe? The usual approach of science of constructing a mathematical model cannot answer the questions of why there should be a universe for the model to describe. Why does the universe go to all the bother of existing? “)
  • Cả đời tôi, tôi đã bị mê hoặc bởi những câu hỏi lớn ngay trước mắt chúng ta và đã thử tìm câu trả lời khoa học . Nêu, cũng như tôi, bạn nhìn vào ngôi sao và cố gắng thấu hiểu về thứ mà bạn đang ngắm nhìn, bạn cũng có thể đã tự hỏi thứ gì đã làm cho vũ trụ tồn tại ? (“All of my life, I have been fascinated by the big questions that face us, and have tried to find scientific answers to them. If, like me, you have looked at the stars, and tried to make sense of what you see, you too have started to wonder what makes the universe exist.”)
  • Khoa học dự đoán rằng rất nhiều loại vũ trụ sẽ tự xuất hiện từ hư không. Việc chúng ta xuất hiện ở vũ trụ chỉ là tình cờ (“Science predicts that many different kinds of universe will be spontaneously created out of nothing. It is a matter of chance which we are in.”)
  • Toàn bộ lịch sử của khoa học là sự nhận thức từ từ rằng những sự kiện không xảy ra theo một lề thói độc đoán mà thực ra chúng phản ánh một trật tự nào đó vốn, có thể có hoặc không, gây ra bởi những lời chỉ bảo của thần thánh. (“The whole history of science has been the gradual realization that events do not happen in an arbitrary manner, but that they reflect a certain underlying order, which may or may not be divinely inspired. “)
  • Chúng ta nên tìm kiếm giá trị vĩ đại nhất của những hành động của chúng ta. (“We should seek the greatest value of our action.”)
  • Kẻ thù lớn nhất của kiến thức không phải là sự phớt lờ mà chính là sự ảo tưởng về kiến thức. (“The greatest enemy of knowledge is not ignorance, it is the illusion of knowledge.”)
  • Thông minh là khả năng thích ứng với sự thay đổi. (“Intelligence is the ability to adapt to change.”)
  • Rõ ràng rằng trí thông minh không có bất kì giá trị nào tồn tại lâu dài cả. (“It is not clear that intelligence has any long-term survival value. “)
  • Không ai có thể tranh cãi được với một định lý toán học. (“One cannot really argue with a mathematical theorem. “)
  • Thật lãng phí thời gian nếu tôi nổi giận với khuyết tật của bản thân. Ai cũng phải tiếp tục sống và tôi thì vẫn chưa đi đến đoạn kết cuộc đời. Mọi người sẽ không dành thời gian với bạn nếu bạn cứ mãi bực tức và phàn nàn. (“It is a waste of time to be angry about my disability. One has to get on with life and I haven’t done badly. People won’t have time for you if you are always angry or complaining.”)

Ông đã nói rằng con người phải rời Trái Đất nếu chúng ta muốn tồn tại: “Rất khí để tránh thảm họa trong một trăm năm tới, hay an lành trong một ngàn, một triệu năm tiếp…Cơ hội duy nhất của chúng ta để sống sót lâu dài để không mãi chăm chăm vào Trái Đất nữa mà phải mở rộng ra khắp vũ trụ.

Ông cũng nói rằng du hành thời gian là điều có thể, và rằng chúng ta nên khám phá vũ trụ vì sự lãng mạn của nó: “Khoa học không chỉ là môn đồ của lý trí mà còn là của lòng đam mê và sự lãng mạn”.

Hawking cũng có những câu nói gây tranh cãi liên quan đến tôn giáo: “Tôi xem bộ não như một máy vi tính vốn sẽ ngừng hoạt động khi những thành phần của nó hư hại. …Không có thiên đường hay kiếp sau nào phá hỏng máy vi tính hết; đó là một câu truyện cổ tích dành cho những con người sợ hãi bóng tối.

Thái Sơn – HAAC

Theo Nola Taylor Redd/Space.com

Advertisements
 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: