RSS

Category Archives: Kiến thức

Tất cả người lớn đều đã từng là trẻ con… nhưng hiếm ai còn nhớ

Đó là một trong những câu văn ấn tượng nhất của tác phẩm ‘Hoàng tử bé’, nguyên văn tiêng Anh, “All grown-ups were once children… but only few of them remember it.”

Hoàng Tử Bé (tên tiếng Pháp: Le Petit Prince), được xuất bản năm 1943, là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nhà văn và phi công Pháp Antoine de Saint-Exupéry. Cuốn tiểu thuyết bao gồm nhiều bức tranh do chính Saint-Exupéry vẽ. ‘Hoàng tử bé’ kể về cậu bé tóc vàng du hành qua các vì sao, đi tìm kiếm một người bạn và ý nghĩa thật sự cho cuộc đời mình. Tác phẩm đã được dịch sang hơn 250 ngôn ngữ (bao gồm cả tiếng địa phương) và cho đến nay đã bán được hơn 200 triệu bản khắp thế giới. Đây là tác phẩm thơ mộng nhất và u uẩn nhất trong những tác phẩm của Saint Exupéry.

Hoàng tử bé sống trên tiểu tinh cầu B612. Ở đó có ba ngọn núi lửa (hai ngọn đang hoạt động còn ngọn kia thì không) và một bông hoa hồng. Cậu chăm sóc cho tiểu hành tinh của mình hằng ngày, nhổ hết các cây bao báp định bám rễ, mọc lên tại đây. Những cái rễ đó sẽ xói đục hành tinh và làm cho thế giới cậu đang sống bị xé rách ra. Một ngày nọ, hoàng tử bé đã rời hành tinh của mình và đi xem phần còn lại của vũ trụ xem như thế nào và đã tới một vài tiểu tinh cầu khác (có số từ 325 đến 330), mỗi tinh cầu này có một người lớn sống ở đó và theo cách hiểu của cậu thì họ toàn là những người kỳ quặc.

“Người lớn quả thật là kỳ lạ” – đó là câu mà Hoàng tử bé hay nói. Những người lớn, qua cách nhìn của một cậu bé, qua lối kể thật sự đơn giản đến khó tin nhưng thấm thía.

Nguyên là, trên hành tinh của ông hoàng nhỏ, cũng như trên mọi hành tinh khác, đều có những loại cỏ tốt và những loại cỏ xấu.

Người lớn là một ông vua trên một hành tinh chỉ có một mình ông, nhưng lúc nào cũng nghĩ mình là vua tuyệt đối, là người trị vì tất cả mọi thứ. Tuy nhiên, ông không thể ra lệnh cho mọi thứ làm theo ý mình vì như ông hay nói: “Nếu trẫm ra lệnh cho một vị tướng phải biến mình thành con chim biển và nếu như vị tướng không tuân theo thì đó không phải lỗi của ông ta. Đó là lỗi của trẫm”. Người lớn luôn đi tìm kiếm quyền lực.

Người lớn là một gã hợm hĩnh. Gã là người muốn được người khác ngưỡng mộ mình, nhưng lại sống cô đơn trên hành tinh của mình. Gã chẳng nghe thấy gì ngoài những câu ca ngợi.

Người lớn là kẻ say rượu. Hắn uống rượu suốt ngày để quên nỗi xấu hổ của mình về việc uống rượu nhiều. Thật là một vòng luẩn quẩn. Tự làm khổ chính bản thân mình.

Suốt ngày chỉ lo đếm sao và xem chúng là tài sản của mình.
Người lớn là một thương nhân, lúc nào cũng làm ra vẻ mình rất bận rộn, luôn thường trực câu nói “Ta là một người nghiêm túc”. Hàng ngày, ông ta đếm những vì sao, cho rằng chúng là của mình. Nhưng theo Hoàng tử bé, việc đó chẳng được lợi gì cho ông ta và ông ta cũng không làm được gì tốt cho những vì sao.

Người lớn lúc nào cũng bận rộn với công việc. Ông ta là một kẻ thắp đèn, sống trong một tiểu tinh cầu cứ 1 phút quay một vòng. Xưa kia ông ta có nhiệm vụ sáng tắt đèn và tối thì thắp. Hành tinh quay càng ngày càng nhanh hơn và đến lúc này, ông ta không còn lấy một giây để nghỉ ngơi. Mỗi phút phải thắp đèn và phải tắt đèn một lần. Hoàng tử bé cảm thấy thông cảm cho người thắp đèn vì ông là người lớn duy nhất trong số những người cậu đã gặp đã quan tâm cho một cái gì khác chứ không phải là bản thân ông ta.

Người lớn là một nhà địa lý, luôn tự cho rằng mình biết tất cả mọi thứ nhưng thật ra lại chẳng biết gì. Nhà địa lý là người đã dùng toàn bộ thời gian của mình để vẽ bản đồ, nhưng chẳng bao giờ rời khỏi cái bàn của mình để đi thám hiểm (thậm chí chỉ trên hành tinh của mình). Ông ta lý luận rằng nhà địa lý không thể đi lung tung mà phải ở nhà để tiếp các nhà thám hiểm, phỏng vấn họ, và ông ta ghi chép lại những hồi ức của họ. Và nếu hồi ức đó đáng chú ý thì nhà địa lý sẽ cho điều tra về tư cách của nhà thám hiểm ấy. Khi tư cách được chứng minh là tốt thì phát hiện của anh ta lại cần phải được điều tra. Nhà địa lý không tin bất cứ thứ gì ông ta không được nhìn thấy tận mắt, dù vậy, ông ta vẫn khong chịu rời khỏi cái bàn của mình. Nhà địa lý yêu cầu hoàng tử bé mô tả về tiểu tinh cầu của mình để ông ghi chép lại. Hoàng tử bé nhắc đến những ngọn núi lửa và bông hoa hồng. “Chúng tôi không ghi nhận hoa hồng”, nhà địa lý nói, “vì chúng chỉ là thứ phù du”. Hoàng tử bé bị sốc và nhận ra rằng một ngày nào đó bông hoa hồng yêu quý của cậu sẽ không tồn tại nữa. Nhà địa lý sau đó đã khuyên cậu đến thăm trái đất.

Đấy, những người lớn chỉ quan tâm đến những thứ ấy. Trong khi những thứ gần gũi, bên mình thì lại chợt bỏ qua và lãng quên.

Hành tinh của Hoàng tử bé chỉ có một ngôi nhà, mấy cái cây, một bông hoa, mấy con cừu. Đơn giản quá! Đơn giản như tâm trí trẻ thơ và cũng mỏng manh dễ vỡ như đúng bản tính của những đứa trẻ. Hoàng tử bé không bao giờ hiểu và cũng không cần, không muốn hiểu về thế giới của người lớn. Hoàng tử bé chỉ cố hết sức để bảo vệ hành tinh nhỏ của cậu, thế giới nhỏ bé của riêng cậu.

Trên trái đất, hoàng tử bé nhìn thấy một khu vườn có rất nhiều hoa hồng và cậu cảm thấy rất đau khổ. Đoá hoa hồng của cậu đã kể rằng nàng là duy nhất trong giống nòi của nàng khắp trong vũ trụ, thế mà ở đây có đến năm nghìn đoá giống như nhau. Sau đó, có một con cáo xuất hiện, và đã giải thích rằng đóa hoa của cậu là duy nhất và đặc biệt vì bông hoa đó đã cảm hóa được cậu (Theo con cáo, “cảm hoá” là tạo nên những mối liên hệ; bông hồng của hoàng tử bé là duy nhất bởi chính thời gian và tình cảm mà chàng dành cho bông hồng đã khiến đóa hồng trở nên quan trọng đến thế với chàng).

Sau một thời gian ở trái đất và chạy trốn tình cảm với hoa hồng mà không thể, hoàng tử bé nhờ một con rắn vàng chàng gặp trong sa mạc dùng nọc độc của nó đưa chàng về với tiểu tinh cầu và hoa hồng yêu thương của chàng.

Em ngã xuống nhẹ nhàng như một cái cây. Cả một tiếng động cũng không có, là bởi vì cát.
Hoàng tử bé đã để lại cho tác giả một món quà. Như cậu nói: “Nếu chú yêu thương một bông hoa trên một ngôi sao nào đó, chú sẽ thấy êm đềm khi ngắm sao ban đêm. Cả bầu trời sao sẽ nở hoa”.

Do đó “Mỗi người đều có các ngôi sao của riêng mình. Với người đi xa, chúng là sao dẫn đường. Với một số người, chúng chẳng khác gì những đốm sáng. Với những ai thông thái, chúng là các vấn đề. Với vị thương nhân, chúng là một kho báu. Nhưng tất cả các ngôi sao đó đều câm lặng. Chỉ riêng chú sẽ có các vì sao không ai có được… Ban đêm khi chú nhìn trời, vì có cháu sống trên một ngôi sao nào đó, vì có cháu cười trên một ngôi sao nào đó, cho nên với chú, tất cả các ngôi sao đều cười. Riêng chú sẽ có các ngôi sao biết cười”.

Thật là một câu chuyện cảm động, chỉ là lời văn đơn giản, viết cho thiếu nhi. Nhưng có lẽ nên gọi nó là “Viết cho những người lớn từng là trẻ con”.

(theo Nguyễn Thùy Trang – Cuốn sách của tôi)

::psyche:: (Tổng hợp)

Ảnh: Starry Night Painting – Starry Night Fine Art Print – Alex Ruiz

Advertisements
 

Tìm kiếm sự sống trên các địa cầu trong dải Ngân hà

Sinh vật là hậu duệ cuả những ngôi sao?
Nền văn minh công nghệ tiên tiến đã giúp nhân loại khám phá ngày càng sâu trong vũ trụ bao la. Kính viễn vọng đặt trên mặt đất và phóng lên không gian, hoạt động trong nhiều miền phổ điện từ, từ bước sóng gamma, X, khả kiến, hồng ngoại đến bước sóng vô tuyến, được dùng để quan sát những thiên thể xa xôi, nhằm tìm hiểu nguồn gốc và sự tiến hóa cuả vũ trụ. Phổ của bức xạ tùy thuộc vào điều kiện lý-hóa như nhiệt độ, từ trường và bản chất của vật chất trong thiên thể. Quan sát nhiều miền phổ là để xác định những nét đặc trưng của từng thiên thể.
Trong những thập niên gần đây, sự tìm kiếm sự sống trong dải Ngân hà là một đề tài hấp dẫn của ngành thiên văn hiện đại. Trong giai đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa, những ngôi sao phun ra hết vật chất và còn có khả năng nổ tung. Vật chất trong những ngôi sao đang hấp hối lại được dùng để tạo ra những ngôi sao và những hành tinh thế hệ sau. Nhiều hóa chất, thành phần cơ bản của những phân tử sinh học, đã được phát hiện trong dải Ngân hà. Do đó, các nhà thiên văn mạnh dạn cho rằng sinh vật, kể cả loài người trên trái đất và nếu có trên các hành tinh khác, cũng là hậu duệ của những ngôi sao.

Trạm tự hành (rover) Curiosity vừa được phóng lên hành tinh Hỏa ngày 6 tháng 8 năm 2012 để thăm dò môi trường của hành tinh xem có khả năng làm nảy sinh và nuôi dưỡng sự sống. Sự kiện Curiosity hạ cánh an toàn trên hành tinh Hỏa đã  được các phương tiện truyền thông đại chúng toàn cầu theo dõi. Tổng thống Obama cũng đích thân gọi điện để nói chuyện với các nhà khoa học của Cơ quan Hàng không Vũ trụ  NASA và Phòng thí nghiệm JPL. Tổng thống  ca ngợi họ đã phóng thành công trạm Curiosity và còn dí dỏm yêu cầu, nếu các nhà khoa học tìm thấy người ngoài trái đất thì vui lòng thông báo ngay cho ông biết.

Read the rest of this entry »

 

Tiểu sử Isaac Newton: Những bước ngoặt và các sự kiện

Isaac Newton đã đóng góp đáng kể vào lĩnh vực khoa học trong suốt cuộc đời của mình. Ông đã tìm ra phép tính vi phân, tích phân và cung cấp cho chúng ta một sự hiểu biết rõ ràng về quang học. Tuy vậy, công việc đáng nói đến nhất của ông là làm việc với các lực, đặc biệt là sự phát triển định luật vạn vật hấp dẫn.

Bức họa Isaac Newton của Godfrey Kneller

Cuộc đời

Sinh ra trong một gia đình nghèo ở Woolsthorpe, Anh vào năm 1642, Isaac Newton theo học Đại học Trinity ở Cambridge sau khi mọi việc trở nên rõ ràng rằng ông sẽ không bao giờ thành công với công việc của một người nông dân. Khi đó, ông bắt đầu quan tâm đến toán học, quang học, vật lý và thiên văn học. Sau khi tốt nghiệp, ông bắt đầu giảng dạy tại trường và được bổ nhiệm làm Giáo sư Lucasian thứ hai. Ngày nay, chiếc ghế đó được coi là vị trí giáo sư nổi tiếng nhất trên thế giới.

Năm 1689, Newton được bầu làm thành viên quốc hội cho các trường đại học. Năm 1703, ông được bầu làm chủ tịch của Hội Khoa học Hoàng gia Anh, một tổ chức của các nhà khoa học vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Ông được Nữ hoàng Anne phong tước hiệp sĩ vào năm 1705 và không bao giờ nghĩ đến việc kết hôn.

Newton qua đời năm 1727 ở tuổi 84. Sau khi mất, ông đã được chuyển đến một nơi trang trọng hơn ở Westminster Abbey.

Read the rest of this entry »

 

Vũ trụ học là gì?

Vũ trụ học là một phần của thiên văn học liên quan đến nguồn gốc và sự tiến hóa của vũ trụ, từ vụ nổ Big Bang đến ngày nay và trong tương lai. Theo NASA, định nghĩa của vũ trụ học là “sự nghiên cứu khoa học về các tính chất quy mô rộng lớn của vũ trụ tổng thể.”

Các nhà vũ trụ học lúng túng với những khái niệm kỳ lạ như lý thuyết string, vật chất tối và năng lượng tối và liệu có một vũ trụ hay nhiều vũ trụ (đôi khi được gọi là đa vũ trụ). Trong khi các ngành thiên văn khác tập trung vào những thiên thể hay hiện tượng riêng biệt hoặc một nhóm những thiên thể, vũ trụ học nghiên cứu toàn bộ vũ trụ từ lúc sinh ra tới lúc chết đi, với vô số những bí ẩn tại mỗi giai đoạn.


Ảnh chụp từ một máy tính mô phỏng sự hình thành của những cấu trúc quy mô lớn trong vũ trụ, hiển thị một bản vá của 100 triệu năm ánh sáng và chuyển động mạch lạc của các thiên hà chảy về phía tập trung khối lượng cao nhất ở trung tâm.CREDIT: ESO
 

Tiểu sử Stephen Hawking

Nhà vũ trụ học Stephen Hawking được xem là một trong những nhà vật lý lý thuyết tài năng nhất kể từ Albert Einstein. Công việc của ông về nghiên cứu khởi nguyên và cấu trúc của vũ trụ – từ Big Bang cho tới lỗ đen – đã làm nên một cuộc cách mạng trong lĩnh vực này; trong khí đó những cuốn sách ăn khách của ông đã lôi cuốn độc giả trên khắp thế giới – những người có lẽ chưa biết gì về tiểu sử khoa học của ông. Trong phần giới thiệu ngắn này, chúng ta cùng nhìn về sự nghiệp và sự học của Hawking – từ những khám phá cho tới những cuốn sách nổi tiếng mà ông đã viết – và căn bệnh đã lấy mất khả năng nói và di chuyển của ông.

Cuộc đời đầy giông tố

Nhà vũ trụ học người Anh Stephen William Hawking sinh tại nước Anh vào ngày 8/1/1942 – đúng 300 năm kể từ ngày chết của nhà thiên văn học Gelileo Galilei. Ông theo học tại trường đại học Oxford, chuyên ngành vật lý, mặc dù công việc của cha ông là tập trung vào thuốc men. Hawking theo học Cambrige để nghiên cứu vũ trụ học.

Read the rest of this entry »

 

Vũ trụ là một chỉnh thể?

Các nhà khoa học đã khảo nghiệm nhiều hiện tượng mà dường như đều hướng vào điều sau đây: vũ trụ tồn tại như một chỉnh thể. Nói cách khác, có một nguồn lực bí ẩn nào đó liên kết mọi cơ cấu vật chất trong vũ trụ thành một thể thống nhất.

Con lắc Foucault

Sau đây là kết quả kỳ lạ của một thí nghiệm do nhà vật lý Leon Foucault (người Pháp) thực hiện vào năm 1851. Ông đã cho treo một con lắc (sợi dây dài buộc một vật nặng) vào mái vòm của ngôi đền Pantheon ở Paris. Khi thả cho con lắc chuyển động thì sợi dây quét qua lại trong không khí theo một mặt phẳng dường như hoàn toàn cố định so với tất cả các thiên thể. Nói cách khác, hành trang của con lắc được quyết định bởi toàn bộ vũ trụ. Vậy thì cái gì giữ vai trò liên kết tất cả các cơ cấu vật chất thành một chỉnh thể?

Con lắc Foucault ở Panthéon, Paris

Read the rest of this entry »

 

Lần đầu tiên lưỡng tính sóng hạt thể hiện ở những phân tử lớn

Một trong những bí ẩn sâu sắc nhất trong vật lí lượng tử là lưỡng tính sóng hạt: mỗi đối tượng lượng tử vừa có tính chất sóng vừa có tính chất hạt. Hiệu ứng này được chứng minh đẹp đẽ nhất trong thí nghiệm hai khe: chiếu những dòng hạt (photon, electron, hay bất kì hạt nào) vào một màn chắn có hai khe hẹp. Trong khi mỗi hạt trình hiện riêng rẻ tại máy dò hạt, nhưng sự phân bố hạt xét như một tổng thể tạo ra một hình ảnh giao thoa như thể chúng là sóng vậy. Mô tả sóng thuần túy hoặc mô tả hạt thuần túy đều không thành công trong việc giải thích những thí nghiệm này.

Nay các nhà nghiên cứu vừa thực hiện thành công một thí nghiệm giao thoa lượng tử với những phân tử lớn hơn và khối lượng lớn hơn nhiều so với trước đây. Thomas Juffmann và các đồng sự đã chiếu những phân tử gồm hơn 100 nguyên tử vào một màn chắn với những khe hẹp được thiết kế để giảm thiểu các tương tác phân tử, và quan sát thấy sự hình thành của hệ vân giao thoa. Thí nghiệm đạt tới chế độ trong đó vật lí vĩ mô và vật lí lượng tử chồng chất lên nhau, mang lại một phương pháp nghiên cứu sự chuyển tiếp đó mà nhiều nhà vật lí đã và đang theo đuổi trong hàng thập niên qua.

Ảnh phác họa sự nhiễu xạ ánh sáng hai khe của Thomas Young trình bày trước Hội Hoàng gia Anh vào năm 1803

Ảnh phác họa sự nhiễu xạ ánh sáng hai khe của Thomas Young trình bày trước Hội Hoàng gia Anh vào năm 1803

Read the rest of this entry »

 
 
%d bloggers like this: